|
Ngày
20 tháng 6 năm 2006
Kính
gởi quư đồng bào hải ngoại,
Tôi
chắc là quư đồng hương đă biễt rằng
tôi đă vào nằm bệnh viện từ ngày 7 thàng 6 này, v́ bị thương ở sống
mũi... Tôi sẽ không viết được thường
xuyên như trong quá khứ trong tho+i` gian tôi tuyệt thực, v́ các cảnh huống và môi trường
ở đây, cũng như v́ mệt mỏi bởi đề nghị những giải pháp
mới mà măi đến nay vẫn chưa được thực hiện đúng mức hoặc
chưa đạt được kết quả tốt cho vụ án dẫn độ của
tôi. Như tôi đă có nói với đại tá Ân, anh Vinh, và
các ngưới khác, đă vào gặp tôi trong 2 tháng qua, tôi sẽ tự nguyện xin được
dẫn độ qua Việt Nam cũng như từ bỏ quốc tịch Hoa Kỳ của
tôi, nếu Quốc Hội Hoa Kỳ và Hành Pháp Bush không can thiệp để bảo vệ
Công Lư và tiếp cứu một chiến sĩ Tự Do vô tội thoát khỏi Âm Mưu của
Cộng Sản trước ngày 24 tháng 7-2006, là ngày ṭa nhóm phiên đầu. Đây là ư định, quyết định và giải pháp thật sự,
chứ không phải là một chiến thuật “hy sinh, trong thời gian tuyệt thực”,
như luật sư Sinh T. Nguyen đă khuyên can và tin như thế.
Tuy nhiên, tôi sẽ không “đương đầu / đối chất với các
kẻ tán thành dẫn độ” trước các phiên ṭa, để “đập tan
ư đồ bẩn thỉu của phỉ quyền Hà Nội” bởi v́ tôi đă mất
hết tin tưởng vào Hệ Thống Pháp Luật này rồi, qua
các kinh nghiệm trong vụ án không tặc giả tạo, và tôi không muốn bị rơi vào
cái bẫy mới của cộng sản là cầm giữ tôi trong nhà tù Thái Lan thêm 5, 6 năm
nữa để vật lộn với vụ án dẫn độ này.
Lư
Tống
ĐỆ NẠP T̉A ÁN DẪN ĐỘ BANGKOK
LƯ NGHỊ BIỆN HỘ LƯ TỐNG
Luật Sư Nguyễn Hữu Thống
Trong
phiên ṭa sơ khởi ngày 17-5-2006, Lư Tống không chấp nhận dẫn độ. Và ṭa án h́nh sự Bangkok đă
đ́nh nội vụ đến ngày 24-7-2006 tới đây.
Vụ dẫn độ Lư Tống không đơn thuần là một vụ án pháp lư. Bay trên không phận Saigon để rải
truyền đơn chống chính phủ là một hành vi chính
trị. Nên đây là một vụ án nặng về chính trị.
Để
góp phần vào việc điều hành Công Lư, ngày 12-6-2006 vừa qua, chúng tôi đă đệ
nạp Ṭa Án Dẫn Độ Bangkok một bản Lư Nghị (Amicus Curiae Brief), nhân danh người phụ tá công lư hay “thân hữu của
ṭa án” (friend of the court).
Sau phần trần thuật là phần quan điểm.
TRẦN THUẬT NỘI VỤ:
Tháng
4-1975, trong một phi vụ hành quân, phi cơ của Lư Tống bị
bắn hạ tại Cam Ranh. Anh bị giam giữ 5 năm
trong trại cải tạo. Năm 1980, anh vượt ngục và vượt tuyến sang Căm
Bốt và Thái Lan. Rồi đi từ Thái Lan qua Mă Lai bằng xe đạp, xe đ̣, hay quá giang
xe vận tải. Năm 1982, khi anh bơi tới quốc đảo Singapore và đặt chân lên ṭa Tổng Lănh Sự Hoa Kỳ
để xin tị nạn chính trị, quần áo anh c̣n ướt sũng nước biển.
Cuộc
vượt ngục vượt tuyến gian nan này, qua 5 quốc gia trong 20 tháng, được
tạp chí Reader’s Digest, với trên 10 triệu độc giả, tường thuật
đầy đủ chi tiết với những lời thán phục.
Sau
khi nhập tịch Hoa Kỳ, Lư Tống tốt nghiệp Cao Học Chính Trị tại Đại
Học New Orleans năm 1990.
Tháng
9-1992, Lư Tống cưỡng chế chiếc máy bay dân sự Hàng Không Việt Nam, bay trên không phận Saigon rải truyền
đơn kêu gọi đồng bào đứng lên lật đổ chế độ Cộng
Sản. Anh đă bị bắt giữ và bị kết án 20 năm tù. Năm 1998, anh được
phóng thích nhờ áp lực quốc tế. Từ 1984 Tổng Thống Reagan đă vinh danh Lư Tống
là một Chiến Sĩ Tự Do.
Ngày
1-1-2000, khởi đầu thiên niên kỷ thứ ba, Lư Tống tự lái chiếc phi cơ Cessna
bay trên không phận Havana rải truyền đơn hô hào người
dân Cuba đứng lên lật
đổ chế độ Fidel Castro. Anh đă bay về Hoa Kỳ b́nh an vô sự. Anh không bị
chính phủ Hoa Kỳ truy tố về tội h́nh sự, chỉ bị phạt hành chánh bằng
cách rút bằng phi công. Đơn yêu cầu dẫn độ
của Cuba đă bị Hoa Kỳ
và Liên Hiệp Quốc bác bỏ.
Tháng
11-2000, Lư Tống lại lái chiếc máy bay một động cơ từ Thái Lan, lượn
trên không phận Saigon để, một lần nữa, rải truyền đơn hô hào người
Việt trong nước hưởng ứng phong trào đấu tranh giải thể Cộng
Sản. Anh đă trở về Thái Lan b́nh an vô sự.
Tuy
nhiên, ngày 25- 12- 2003, anh đă bị Ṭa Án Thái Lan kết án 5 năm 6 tháng tù, 5 năm 2 tháng về
tội “cưỡng đoạt phi cơ”, và 4 tháng về tội “vi phạm không
phận Thái Lan”. Về vụ này, phát ngôn viên Bộ Ngoại Giao Việt Nam tố cáo Lư
Tống là một “tên khủng bố quốc tế nguy hiểm”, và đ̣i kết
án anh về tội “xâm phạm an ninh và lănh thổ quốc gia” (mà h́nh phạt có thể
đến tử h́nh).
Tháng
3-2006, Bộ Tư Pháp Thái Lan chấp thuận đưa nội vụ ra ṭa để cứu
xét đề nghị dẫn độ của Chính Phủ Hà Nội về tội “vi phạm
không phận quốc gia”.
Nội
vụ sẽ được đưa ra Ṭa Dẫn Độ Bangkok ngày 24- 7 tới đây
để phán xử xem quyết định dẫn độ của Bộ Tư Pháp Thái Lan
có hợp hiến, hợp pháp không?
QUAN ĐIỂM PHÁP LƯ:
Để
bào chữa cho Lư Tống, trong bản Lư Nghị, chúng tôi nêu lên 12 quan điểm pháp lư xây dựng
trên Luật Dẫn Độ Thái Lan 1929, Hiệp Ước Dẫn Độ Mỹ-Thái 1983
và Luật Tục Lệ Quốc Tế về Dẫn Độ (International Customary Extradition Law).
Chúng
tôi chủ trương rằng Lư Tống không thể bị dẫn độ về Việt
Nam v́ những lư do sau đây:
1. Rải truyền đơn chống chính phủ là một hành
vi chính trị, và tội trạng, nếu có, chỉ có thể là một tội chính trị
không được dẫn độ (political offense).
2. V́ Lư Tống đă bị phạt 20 năm tù sau vụ rải
truyền đơn năm 1992, và lần này lại rải truyền đơn nữa, nên nhà
cầm quyền Hà Nội đ̣i dẫn độ anh để trả thù. Đây là một mục đích chính trị (political purpose) mà Luật Tục Lệ
Quốc Tế không cho phép dẫn độ.
3.
Theo Luật Quốc Tế Nhân Quyền, khi rải truyền
đơn tại Saigon chống chế độ Cộng Sản, hay khi công bố tại Luân
Đôn bản “Tuyên Ngôn Đảng Cộng Sản” kêu gọi lật đổ chế
độ Tư Bản, Lư Tống và Các Mác chỉ hành sử hợp pháp quyền tự do phát
biểu, không cấu thành tội h́nh sự. Nếu không có
tội th́ không bị dẫn độ.
4. Luật Dẫn Độ Thái Lan 1929
không cho phép dẫn độ các công
dân
Thái Lan qua các quốc gia khác nếu Thái Lan không kư hiệp ước dẫn độ với
quốc gia yêu cầu (như Việt Nam). Do Hiệp Ước Dẫn Độ Mỹ-Thái 1983, trên b́nh
diện quốc gia, giữa Hoa Kỳ và Thái Lan có sự hợp tác (cooperation) và hỗ tương
(reciprocity). Đặc biệt trên b́nh diện người
dân, về vấn đề dẫn độ, các công dân Thái Lan và Hoa Kỳ có quyền b́nh đẳng
được luật pháp bảo vệ (equal protection of law). Ngày
nay, giữa Thái Lan và Việt Nam không có hiệp ước dẫn độ, nên chiếu Luật
Dẫn Độ Thái Lan 1929 và Hiệp Ước Dẫn
Độ Mỹ-Thái 1983, theo nguyên tắc, Chính Phủ Thái Lan sẽ không dẫn độ các
công dân Thái Lan và công dân Hoa Kỳ về Việt Nam. Các giới
chức ngoại giao Hoa Kỳ đồng ư với quan điểm này.
5. Mặc dầu không có hiệp ước dẫn độ, Thái
Lan vẫn có thể dẫn độ các ngoại kiều qua quốc gia yêu cầu trên căn
bản hỗ tương. Hiện nay Thái Lan chỉ dành qui
chế hỗ tương cho 5 quốc gia là Pháp, Đức, Ư, Áo và Na Uy (không có Việt Nam).
6. Chiếu nguyên tắc “Nhất Sự Bất Tái Cứu”,
Lư Tống không thể bị dẫn độ về Việt Nam để trả lời về tội “vi phạm không
phận quốc gia”. V́ anh đă bị xét xử và kết án về tội này tại Ṭa
Án Rayong ngày 25-12-2003 Điều 5 Hiệp Ước Dẫn Độ Mỹ-Thái cũng quy
định như vậy.
7. Chiếu Luật Hàng Không Thái Lan 1954 (Aviation Act of Thailand), máy bay
của Lư Tống chỉ cất cánh từ Thái Lan và đáp xuống phi trường Thái Lan,
nên anh chỉ vi phạm không phận Thái Lan. V́ Luật Hàng Không Thái Lan coi phi cơ Thái Lan là lănh
thổ quốc gia nối dài. Chiếu nguyên tắc Trùng Điệp Thẩm Quyền (Dual Jurisdiction),
Lư Tống không thể bị dẫn độ về Việt Nam.
8. Chiếu Nghị Quyết Dẫn Độ 1991 về An Ninh Hàng
Không Dân Sự Quốc Tế (Extradition Order on Aviation Security),
các phi công chỉ có thể bị dẫn độ nếu sử dụng bạo hành vơ trang
để phá hủy phi cơ hay phá hoại các cơ sở hàng không của quốc gia yêu cầu
dẫn độ. Đây không phải là trường hợp
của hiện vụ.
9. Chiếu Công Ước Chicago
Về Hàng Không Dân Sự Quốc Tế 1944,
(Convention
on International Civil Aviation) tội vi phạm không phận quốc gia xẩy ra thường hằng
và phi công không bị dẫn độ. Chỉ có 4 biện
pháp được quy định cho những trường hợp nghiêm trọng là:
a. Thông báo phi cơ vi phạm
phải bay ra khỏi không phận quốc gia.
b.
Buộc phi cơ vi phạm phải đáp xuống một phi trường chỉ định.
c. Gửi kháng thư hay
công hàm ngoại giao cho quốc gia có phi cơ vi phạm.
d. Bắn hạ nếu
phi cơ vi phạm khiêu khích (vơ trang).
10. Chiếu Công Ước Chống Tra Tấn Hành Hạ Liên Hiệp
Quốc 1984, các quốc gia hội viên không được dẫn độ các công dân hay trú
dân sang một quốc gia khác, nếu quốc gia này có những thành tích “vi phạm nhân quyền
thường xuyên, tập thể và thô bạo”.
Đó
chính là trường hợp của Việt Nam. Từ 2004 quốc gia này bị liệt vào danh sách “các
quốc gia cần đặc biệt quan tâm”, hay nói rơ hơn, có những thành tích thường
xuyên, tập thể và thô bạo vi phạm những quyền tự do tôn giáo và tự do chính
trị.
11. Từ 1983 Lư Tống có tư cách tị nạn chính trị. Năm
1992, sau vụ rải truyền đơn tại Saigon, anh bị bắt
giữ và truy tố về tội âm mưu lật đổ chính quyền nhân dân nên có tư
cách tù nhân chính trị. Năm 1993, Ủy Ban Nhân Quyền Liên
Hiệp Quốc kết án nhà cầm quyền Hà Nội đă bắt giữ độc đoán
(arbitrary arrest and detention) hai tù nhân lương tâm Việt Nam là Bác sĩ Nguyễn Đan Quế
và Giáo Sư Đoàn Viết Hoạt. Do đó, để tước
đoạt tư cách tù nhân chính trị của Lư Tống, Ṭa Án Saigon đă cải tội danh
từ tội chính trị (phản nghịch) thành tội thường phạm (cưỡng
đoạt phi cơ) và đă phạt anh 20 năm tù. Mặc
dầu vậy, tháng 9, 1998, Lư Tống, Đoàn Viết Hoạt và Nguyễn Đan Quế cùng
được trả tự do một ngày. Cả 3 vị đều là tù nhân lương tâm
hay tù nhân chính trị.
Với
tư cách tị nạn chính trị và tù nhân chính trị, năm 1984 Lư Tống đă được
Tổng Thống Reagan tuyên dương là “Chiến Sĩ Tự Do” (chống Cộng). Do đó, anh không thể bị dẫn độ về Viêt Nam (Cộng Sản) chiếu nguyên tắc Bất
Khả Giao Hoàn (Non-Refoulement of political refugees / political prisoners).
12. Theo tập quán và án lệ, về mặt ngoại giao Hoa
Kỳ không chấp nhận cho dẫn độ các công dân đă măn thụ h́nh qua một quốc
gia đệ tam (như Việt Nam). Nhất là khi quốc gia này không kư hiệp ước dẫn
độ với Thái Lan và Hoa Kỳ. Hơn nữa, Việt
Nam không có tư pháp độc
lập, ṭa án chỉ là công cụ để đàn áp đối lập. Không thể biến quy chế dẫn độ thành một kỹ thuật pháp
lư để đàn áp chính trị.
V́
những lư do nêu trên, Ủy Ban Luật Gia Bảo Vệ Dân Quyền trân trọng thỉnh cầu
Ṭa Án:
1. Bác đơn yêu cầu của CSVN dẫn độ
Lư Tống về Việt Nam
2. Trả tự do vô điều kiện cho Lư Tống.
Trân trọng kính tŕnh,
T. M. Ủy Ban Luật Gia Bảo
Vệ Dân Quyền
Luật Sư Nguyễn
Hữu Thống
June 12, 2006.
MEMORANDUM SUBMITTED TO THE CRIMINAL COURT
OF BANGKOK
RE: Ly Tong Extradition Case.
Case number: Or. Phor. 4/2549
Hearing date: July 24, 2006 at 13.30 hrs.
On behalf of the Lawyers’ Committee for People’s Rights, we would like to submit a memorandum on the Ly
Tong Extradition case. Due to the broad public interest in this matter, we request that our memorandum be accepted as an amicus
curiae brief.
Factual Background.
Ly Tong first came to notice in 1985 when
the story of his escape from Vietnam,
“Black Eagle,” appeared in the Readers Digest magazine. Black Eagle was the name of the air squadron he flew with
before his A-37 fighter jet was shot down in April 1975. He spent five years
in prison camps, escaping on an epic 20-month trek across Vietnam, Cambodia, Thailand, and Malaysia. He traveled on foot, bicycle,
bus, and truck, and finally swam to Singapore,
arriving dripping wet at the American Embassy to seek asylum. He was then naturalized
as an American citizen, and in 1990, got the degree of Master of Arts in Political Science at the University of New Orleans,
Louisiana.
In September 1992, Ly Tong used a Vietnam
Airlines passenger jet to drop leaflets over Ho Chi Minh City, the former Saigon,
urging an uprising against communist leaders. He was originally charged with
rebellion and sentenced to 20 years in prison. He was released in 1998 by amnesty. President Ronald Reagan called him “a
freedom fighter.”
On January 1, 2000 Ly Tong dropped leaflets from a Cessna plane over Havana,
calling on Cubans to rise up against Fidel Castro. He became a hero in Miami’s Little Havana. The
American authorities did not criminally prosecute him, but instead suspended his pilot’s
license. Cuba’s request
for his extradition was denied by the United States
and the United Nations.
His latest daring leaflet-dropping act
occurred from a single-engine plane over Ho Chi Minh City,
on November 17, 2000, the eve of President Clinton’s
visit. It landed him in prison in Thailand
for five years and six months, five years and two months for hijacking, and four months for violation of Thai airspace.
Referring to this incident, Vietnam’s Ministry of Foreign
Affairs spokesperson accused Ly Tong of violating Vietnam’s
territorial and national security, i.e. rebellion, or specifically, “having activities aiming to overthrow the people’s
government.” In August 2005, the Thai Attorney General informed the American Embassy in Bangkok
that Thailand has offered to accept a request for Ly Tong’s extradition
to Vietnam for the charge of “violation
of Vietnamese airspace”. In March 2006, Vietnam accepted this offer. In the meantime, Ly Tong’s sentence was completed
on May 17, 2006.
The
Law of Extradition.
Extradition is the process by which one State (the requested State)
surrenders an individual found on its territory to another State (the requesting State) where he is wanted to stand trial
for an offense he is alleged to have committed. A distinction should be drawn between extradition and surrender as understood
by the European Union within the framework of the European Convention, which is intended to abolish formal extradition procedures
by accepting the principle of mutual recognition of judicial decisions.
There are two legal sources of extradition law: national legislation
and international law. The content of national extradition laws varies considerably. The laws may, for example, lay down the procedural rules, or define the conditions
to be incorporated in future extradition treaties. There are also various types
of international legal texts. These may be bilateral extradition treaties or
multilateral extradition conventions, such as the European Convention on Extradition, the Arab League Extradition Convention,
the Inter-American Extradition Convention, and the Economic Community of West African States Extradition Convention. These
international legal texts form the International Customary Extradition Law applicable to those countries that do not have
bilateral extradition treaties.
1. Extradition Treaty.
According to international law, extradition procedures
can be started only if the countries involved in the extradition request have signed extradition treaties. There are, at the
present time, no bilateral extradition treaties between Thailand and Vietnam, or between the United States and
Vietnam. The United States-Thailand Extradition
Treaties were signed in 1922 and l983. In the United States, the President is not legally empowered to extradite any individual
in the absence of treaty provisions.
2. Extradition Act.
Pursuant to The Thai Extradition Act of 1929, Thailand can only extradite its citizens if there is a treaty with the requesting
State providing so. If there is no Extradition Treaty, Thailand will act on the basis of reciprocity.
Presently, the following countries have made a commitment to assist Thailand
on the basis of reciprocity with regard to an extradition request from Thailand:
(1) France; (2) Italy;
(3) Norway ;(4) Germany;
(5) and, Austria. See Guidelines on the Extradition Act B.E. 2472 (1929 A.D.) (EXHIBIT A)
3. Extraditable
Offenses.
According to the principle of specificity, the person whose extradition
has been requested may only be prosecuted, tried, or detained for those offenses
that provided grounds for extradition. According to the usual bilateral treaties and multinational conventions the following
offenses are extraditable: crimes of violence, anti-social crimes, and crimes against humanity,
such as narcotics offenses, trafficking of women and
minors, murder, counterfeiting of bank notes, embezzlement of public funds, burglary, arson, malicious destruction of railways,
trams, vessels, bridges, and dwellings when the act endangers human life.
According to the Extradition Order 1991 on Aviation Security, a person
can be extradited if he commits an offense by using a weapon to perform an act of violence to destroy an aircraft, or damage
air navigation facilities.
There
are no rules to extradite an airspace violator.
Actually, there are hundreds of airspace violations each year around the world. In
serious cases, according to the Chicago Convention on Airspace Violations of 1944, four measures should be taken to solve
the problems:
1. Warn the violating aircraft to leave
the airspace of the violated country;
2. Force the violating aircraft to land
at an airport of the violated country;
3. Shoot the violating aircraft if a provocation
takes place; or,
4. Send a diplomatic protocol of complaint to the country of the
violating aircraft. (EXHIBIT B)
4. Political Offenses..
Under international customary law, extradition should not be granted when it is established that
extradition is requested for political purposes. Similarly, the principle of non-refoulement
protects political refugees and political prisoners from being extradited to their countries of origin.
Pursuant to the United Nations’ Convention Against Torture of 1984 “no State Party shall
extradite a person to another State where there are substantial grounds for believing that he would be in danger of being
subjected to torture. For the purpose of determining whether there are such grounds,
the competent authorities shall take into account all relevant considerations, including, where applicable, the existence
in the State concerned of a consistent pattern of gross, flagrant or mass violations of human rights.”
5. Non-Bis In Idem.
Under the principle of Non-Bis
In Idem, extradition shall not be granted if the individual whose extradition is requested has already been tried for
the same offense by the court of the requested country.
6. Protection of the Freedom of Expression.
The Universal Declaration of Human Rights and
the International Covenant on Civil and Political Rights protect the right to freedom of expression: “Everyone has the
right to hold opinions without interference. Everyone has the freedom to seek,
receive, and impart information and ideas through any media of his choice, and regardless of frontiers.” (Article 19).
This is why, in the mid-19th century,
the London Court did not prosecute Karl Marx for his opinions expressed in “The Communist Manifesto,” which urged
the proletariat throughout the world to unite in armed uprisings to overthrow capitalist governments. Publishing a manifesto and distributing pamphlets are lawful forms of exercising the right to freedom of
expression. Dropping
leaflets is not an act of terrorism, but an exercise of the right to freedom of expression.
In Ly Tong’s Havana flight on January
1, 2000, his violation of the U.S.
national defense airspace was sanctioned by the suspension of his pilot license. Havana’s
request for his extradition was denied by the United States
and the United Nations.
During the last three decades, the Vietnamese authorities have consistently
violated human rights, in particular, the freedom of expression. All articles
expressing opposite views could be grounds for accusation of rebellion, espionage, undermining the national unity policy,
anti-state propaganda, abuse of democratic freedoms, etc. For example, in 1991,
Dr. Nguyen Dan Que was sentenced by the People’s Court
to 20 years imprisonment on the charge of rebellion, or “having activities aiming to overthrow
the people’s government.” Dr. Que had only released the Manifesto
of the Movement for Human Rights which demanded the exercise of the people’s right of self-determination, the abolishment
of the monopoly of leadership, and the organization of free and fair elections.
In
addition, in 200l, Father Nguyen Van Ly sent a written testimony to the U.S. Commission on International Religious Freedom
to denounce the policy of religious repression of the Hanoi Government. In retaliation,
the People’s Court sentenced him to 15 years imprisonment on the charge of “undermining the national unity policy,”
and “violating a house-arrest decision” issued by the local authorities.
Similarly, in 2002, Dr. Pham Hong Son was sentenced by the People’s Court to five years in
prison for the false charge of espionage. His “criminal act” consisted
of disseminating principles of democracy in a book entitled “What is Democracy?” translated from a document issued
by the U.S. Department of State.
For these reasons, in 2004 and 2005, Vietnam
was put on the list of “countries of particular concern” (CPC), together with North
Korea, China, and Myanmar
in East Asia. (EXHIBITS C & D)
Therefore, from experience, we have good
reasons to believe that if Ly Tong were extradited to Vietnam,
the People’s Court would amend the charge to that of violation of territorial and national security, or “having
activities aiming to overthrow the people’s government,” and could inflict him a penalty of 20 years in prison,
life imprisonment, or death because of recidivism.
The People’s Court could alternatively
sentence him to the maximum penalty of ten years imprisonment for “Violation
of Aviation Regulations,” pursuant to Article 222 of Vietnam’s Criminal Code. In addition, Article 222 could also charge him with “Espionage” (Article 80), or “Violation
of Territorial Security” (Article 81) with the maximum penalties of life imprisonment, or death. These, however, would
constitute forms of cruel
and inhuman punishment, in violation of Article 5 of the Universal Declaration of Human Rights as well as Article 7 of the
International Covenant on Civil and Political Rights. Moreover, the offense of
“Violation of National Airspace” in the Thai and American Criminal Codes cannot be assimilated to the offense
of “Violation of Aviation Regulations” in the Vietnamese Criminal Code.
Relevant Provisions of the Treaty of Extradition between the U.S. and Thailand.
The Treaty of Extradition between the United
States of America and the Kingdom of Thailand,
signed at Bangkok in 1922, has enhanced the administration
of criminal justice in both States. In 1983, the governments of the two States signed a new treaty. Several provisions of
this Extradition Treaty should be incorporated to the International Customary Law on Extradition, and are relevant to Ly Tong’s
case:
1. Obligation to Extradite.
The Contracting Parties agree to extradite to each other, subject
to the provisions described in this Treaty, persons found in the territory of one of the Contracting Parties who have been
proceeded against for, or have been charged with an extraditable offense.
2. Extraditable Offenses.
An offense shall be an extraditable offense for prosecution only if
it is punishable under the laws of both Contracting Parties by imprisonment for a period of more than one year or by any greater
punishment.
In the United States,
a person that violates the national defense airspace shall be fined or imprisoned for not more than one year (Criminal Code
Section 46307). As a misdemeanor, this offense shall not be extraditable.
3. Political Offenses.
Extradition shall not be granted when:
a) The offense for which extradition is sought is a political offense; or
b) It is established that extradition is requested for political purposes.
4. Dual Jurisdiction.
The Requested State may
refuse to extradite a person claimed for a crime, which is requested by its laws as having been committed in whole or in part
in its territory or in a place treated as its territory.
Pursuant to the Aviation Act of Thailand “[t]he commission of
an offence in any Thai airplane shall be deemed as being committed within the kingdom, irrespective of the place where such
Thai airplane may be.” In this case, Ly Tong did not take off or land outside
Thailand; the places of his departure and landing were in Thailand. Therefore, his offense if
any shall be deemed as being committed within Thai territory.
5. Prior Jeopardy for the Same Offense
Extradition shall not be granted when the person sought has been tried and convicted in the Requested State for the offense for which extradition
is requested (Article 5).
On December 25,
2003, Ly Tong was convicted by the Criminal Court of Rayong to four months in prison for violation of national
airspace. Therefore, Thailand may refuse his extradition to Vietnam to stand trial for the same offense.
6. Equal Protection of Law.
Thailand has signed with the United States
the Extradition Treaty of 1983 on the basis of Reciprocity between the two States, and Equal Protection of Law between Thai
and Americans citizens in extradition matter. (EXHIBIT E)
Pursuant to the Thai Extradition Act of 1929, Thailand may extradite its citizens only if there is a bilateral treaty providing
so.
Thailand should enforce to Thai and US citizens the
same right to Equal Protection of Law pursuant to the 1983 Extradition Treaty.
Therefore, as an American citizen, Ly Tong should not be extradited to Vietnam,
since no Extradition Treaty exists between Thailand and Vietnam.
Based on the foregoing, our Committee
prays that:
· The request to extradite Ly Tong to Vietnam be denied;
· Ly Tong be released without conditions.
Thank you for your consideration in this matter.
Respectfully submitted,
ON BEHALF OF
THE LAWYERS’ COMMITTEE FOR PEOPLE’S RIGHTS.
Nguyen Huu Thong, Esq.
Attorney at Law to the California Supreme Court (1978 to present)
Attorney at Law to the Paris Court
of Appeal (1975-1976)
Attorney at Law to the Saigon Court of Appeal (1954-1975)
President of the Lawyers’ Committee for People’s Rights (1990 to present)
Mùa
Sen Trên Đất Thái
Tùy bút Ngọc Thủy
Giữa tháng năm, mùa xuân vừa mới
tạ từ để nắng hạ trở về gieo hơi thở mới cho không gian thêm
phần nóng ấm. Thời tiết Cali năm nay vẫn bị sự lạnh
lẽo của mùa đông lấn áp cho đến giờ này, có lẽ do ảnh hưởng
những trận băo lớn vừa qua.
Tháng năm, mùa này hoa cúc đă nở
rộ quanh vùng thung lũng San Jose. Tôi mang theo
mầu hoa cúc vàng rực rỡ và tươi mát ấy trên chuyến bay đi Thái Lan, một
chuyến bay được h́nh thành nhanh chóng từ sự khích lệ của bác sĩ Trần
Công Luyện, luật sư Nguyễn Thành và những người bạn đồng nghiệp
như kư giả Huỳnh Lương Thiện (báo Mơ San Francisco), Lê Văn Hải (báo Mơ San Jose),
Cao Sơn (Tin Việt News), nhà thơ Ngô Đức Diễm .v.v… để thăm người
chiến sĩ tranh đấu cho Tự Do là anh hùng Lư Tống đă bị giam giữ tại
đất Thái hơn năm năm qua sau ngày (07/11/2000) rải năm mươi ngàn lá truyền
đơn xuống thành phố Sàig̣n kêu gọi người dân Việt Nam đồng đứng
lên chống lại thể chế độc tài áp bức của Đảng Cộng sản
Việt Nam đă và đang làm nghiêng ngả quê hương.
Trước khi cánh bay đáp
xuống phi trường Bangkok đúng bốn giờ năm phút, tôi cố nghiêng người
ngó qua cửa sổ để được nh́n xuống những mương dừa, đồng
ruộng xanh bên bở kênh nước ruộng, như muốn được nh́n thấy lại
h́nh ảnh quen thuộc của quê hương ḿnh, nằm đâu đó bên kia bờ vịnh
Thái Lan. Trong tim óc tôi lúc bấy giờ ngập tràn bao h́nh ảnh dấu yêu cùng lời thắm
thiết nhớ từ một khúc nhạc T́nh Ca của nhạc sĩ Phạm Duy:
“Quê hương tôi có con
sông đào xinh xắn,
nước
tuôn trên bờ ruộng vắn,
lúa thơm cho
đủ hai mùa…”.
Ôi quê hương tôi là đồng ruộng
xanh tươi, gịng sông uốn khúc trong lành, là lúa gạo miền Nam đă dưỡng nuôi tôi khôn lớn bằng t́nh yêu đất
nước đậm đà.
Cũng từ cảm giác này vụt
cho tôi nhớ lại sự đau ḷng cách đây gần mười lăm năm về trước
trên chuyến bay đi Mỹ đoàn tụ gia đ́nh và cũng chính là ngày tôi phải rời
bỏ quê hương. Trên chuyến bay lần đó, tôi đă cố, cố hết sức
nh́n thật lâu để mong ghi dấu những h́nh ảnh quê hương thân yêu lần cuối.
Bởi trong hai mươi năm lớn lên từ khói lửa chiến tranh, tuy biết đất
nước ḿnh chưa thật sự yên b́nh nhưng tôi vẫn được sống cùng
tổ quốc, lần đầu mới thật sự phải rời xa, trái tim tôi đau
đớn đến quặn thắt nên đă không kềm giữ được tiếng
bật khóc nức nở trên suốt chuyến bay dài. Chưa bao giờ tôi khóc nhiều và ḷng
thương đau đến thế.
Lần đó, đă lâu lắm rồi
nhưng vẫn c̣n nóng hổi bao cảm xúc trong trái tim tôi. Như phút giây này đây, tuy không bật
khóc nức nở như xưa, nhưng ḷng tôi đang xúc động với biết bao kỷ
niệm dạt dào:
lại về lại chỗ ngày xưa
Thái Lan gần gũi xứ dừa Mê Kông
máy bay lượn một hai ṿng
con sông cũng lượn theo ṿng nhân luân!
Cần Thơ - Bangkok
như chừng
trong gang tay kẻ đành ḷng xa quê…
mười lăm năm một buổi về
tôi bâng khuâng tưởng ai kề một bên!
cùng Châu mà biết bao miền
Quê Hương không lẽ… lầm duyên kiếp người?
xuống phi trường vẫn xa xôi
ngắm cô gái Thái, nhoẻn cười, lại đi…
tới đây nhặt chút xuân th́
là hoa lan trắng nhu ḿ ngát thơm!
chỗ xưa, này, chỗ tôi buồn
gọi Quê Hương, bỗng Cố Hương bao giờ!
tôi về lại chỗ ngày xưa
Thái Lan xanh ngát lá dừa Việt Nam!
n.t.
Lần đó, tôi rời Việt Nam
cuối năm 1990, được đưa qua Thái Lan ở trong trại chuyển tiếp
một tuần, để từ đấy đến Hoa Kỳ. Mười lăm năm
sau tôi trở lại Thái Lan ngày 12 tháng 5 năm 2006, trong chuyến đi lần này. Tôi nhớ
lại những cảm xúc lần đó khi phi cơ sắp hạ cánh lượn mấy ṿng
trên bầu trời Bangkok, tôi thấy những vườn dừa, nhớ lắm Cần Thơ,
tôi thấy con sông Mê Nam, nhớ lắm con sông Mê Kông, người ḿnh gọi là sông Cửu Long.
Điều duy nhất tôi không quên: nhớ ai đó yêu tôi mà tôi chưa một lần gật
đầu. Thuở đó, Xuân Th́ – Và chắc đă xưa! Bao giờ nhỉ tôi về
thăm B́nh Thủy, nơi tôi ra đời bên bờ sông Hậu Giang?
Tôi đến Thái Lan vào một buổi
chiều nóng bức dữ dội chứ không la đà yểu điệu như những ngày
hè Cali ấm, lạnh bất thường.
Vừa ra khỏi cửa phi trường Bangkok,
hơi nóng phả vào tôi như muốn nung người. Nhưng tôi vẫn thở ra được
môt hơi dài nhẹ nhơm khi nghĩ tới ngày cuối ra phi trường với biết bao
việc làm dồn dập sau chuyến đi Đài Loan t́m hiểu về các nạn nhân cô dâu
và công nhân Việt bị mua bán, hành hạ, mới trước đó hai tuần. Rồi vừa
phải chạy lo phát hành tạp chí Suối Văn, vừa lo chuyển đổi chương
tŕnh phát thanh hằng ngày từ buổi tối trên làn sóng AM/1430 sang AM/1120 vào buổi sáng, vừa
lo chuẩn bị mọi công việc, chuyện nhà trong thời gian mười ngày đi vắng
tiếp. Tôi chỉ đến kịp trước giờ Check-in tại phi trường San Francisco cho chuyến bay dài xuất ngoại đúng
một giờ mười lăm phút. Nếu không có sự kiên nhẫn trấn an của luật
sư Nguyễn Thành trong lúc đưa giúp tôi ra phi trường trong buổi tối đó, chắc
tôi c̣n phập phồng lo lắng hơn khi phải chạy đua gấp rút với thời
điểm khởi hành của chuyến bay xa.
C̣n đang bỡ ngỡ trước
quang cảnh và không khí mới lạ với bước chân ngập ngừng đi qua hàng rào
đám đông ồn ào đang chờ đón thân nhân tại phi trường Bangkok, tôi chợt
reo lên tiếng vui mừng nhỏ khi nh́n thấy Đại tá Vơ Văn Ân đang tiến lại
gần. Th́ ra anh đă đứng đây đón tôi hơn nửa tiếng rồi. Trong thời
gian chờ đợi Taxi theo kiểu tuần tự, anh Ân cho biết đă qua đây hơn
một tuần và đă đi thăm anh Lư Tống được hai lần. Nghe xong tôi rất
vui mừng khi biết tin anh Lư Tống vẫn b́nh an, điềm tĩnh trước mọi
chuyện sắp xẩy đến với anh trong giai đoạn quá gay go này. Bởi tôi cùng
mọi người khắp nơi đều quan tâm và lo lắng biết bao khi nghe tin anh tuyệt
thực từ cuối tháng ba và dự định tự sát nếu bị dẫn độ
về Việt Nam theo yêu sách của nhà cầm quyền Cộng sản VN. Cũng theo anh Ân cho
biết, chúng tôi sẽ được vào thăm anh Lư Tống trong ngày thứ Hai tới theo
phép lệ đầu tuần.
Trong chuyến đi này từ Bắc
California, ngoài tôi ra c̣n có hai mẹ con cô Mỹ Hạnh đă từng đi thăm người
chiến sĩ Lư Tống ba lần tại đất Thái trong tinh thần ủng hộ người
đấu tranh chống Cộng một cách tích cực, nhiệt thành. Riêng Đại tá Ân đến
đây để hỗ trợ anh Lư Tống trong tinh thần chiến hữu Huynh Đệ
Chi Binh đă hai mươi lần nên khá quen thuôc đường đi nước bước
ở Bangkok, anh đă chọn cho cả nhóm chúng tôi địa điểm khách sạn gần
nhà tù Klong Prem để tiện việc đi lại hằng ngày, vừa sạch sẽ, êm
đềm v́ có gịng sông nhỏ chảy băng qua chiếc cầu đúc ngăn con đường
lộ lúc nào cũng ào ạt gịng xe tấp nập bên ngoài. Khi thấy tôi tỏ vẻ thích
thú với cảnh đẹp trước con đường nhỏ có hàng cây xanh lá bên gịng
nước chảy êm êm, anh Ân đă chọc cô em gái có tính thích mơ màng với nước
cùng hoa lá cỏ cây là : “Tha hồ cho Ngọc Thủy có hứng khởi làm thơ, viết
truyện lồng trong chuyến đi thăm người hùng Lư Tống kỳ này”. Đúng
rồi, người bạn của chúng tôi, anh Lư Tống cũng rất thích làm thơ mỗi
khi anh tạm ngưng chuyện “đội đá lấp trời” để ném xuống
đầu bọn Cộng sản vô thần những đ̣n bay thần tốc bốc lửa.
Người chiến sĩ luôn tranh đấu cho Tự Do ấy khi chiến đấu th́
rất gan lỳ dũng mănh nhưng tâm hồn lại rất gần gũi với văn chương
thi phú trong cuộc sống đời thường. Trong tác phẩm Ó Đen của Lư Tống
cũng đă thể hiện điều này. Và các bằng hữu của anh khi nói về con
người quả cảm Lư Tống như thi sĩ Nguyễn Lập Đông với bài thơ
Rượu Tiễn trong buổi đưa người tráng sĩ Kinh Kha của thời đại
mới lên đường thắp sáng hội Non Sông (09/1992):
“đất nước bừng lên ngày nắng mới
bạn về thắp sáng hội non sông
này chén rượu hùng xin uống cạn
nỗi đời hư huyễn có ǵ đâu!
hăy trông nước chẩy xuôi sông Dịch
chẳng lẽ nghêu ngao đến bạc đầu?
này cánh dù rơi chiều lửa đạn
thân tàu bay nát giữa cuồng điên
đêm đen thù bạn không nh́n rơ
th́ trách làm chi chuyện hăo huyền!
này chén rượu hùng xin uống cạn
bạn về như ánh kiếm Kinh Kha
rượu đưa hào kiệt ngh́n năm trước
c̣n vẳng đâu đây một tiếng khà!
đập nát Hồ Trường tan thành bụi
cơn say lạ mặt có ǵ đâu
đốt chén hững hờ thành giông băo
đẩy càn khôn lộn giữa chiêm bao!
hăy thét gầm lên trời Sát Thát
thân ḿnh làm đuốc sáng trời Nam
là điểm khởi hành trong đổ nát
để người kiêu hănh đứng vùng lên!”
(Nguyễn Lập Đông)
Và thi sĩ Hà Huyền Chi đă không
ngăn được nỗi hân hoan khi chợt nghe tin vui đang như gịng lửa sáng ngùn
ngụt cháy đỏ lan truyền:
“cơn xúc động đă phóng đi từ Los
qua đường giây viễn thoại rực ân t́nh
lửa hào hùng thắp đỏ triệu buồng tim
Lửa Lư Tống đẹp như trong huyền thoại!
thằng em anh đă trở nên vĩ đại
đă thăng hoa, đă cao lớn dị thường
thằng Ó Đen sau khổ nạn, cùng đường
vẫn mài móng, vẫn dấu hờn trong cánh
hồn Phù Đổng cho thằng em sức mạnh
chí Quang Trung làm lớn dậy con người
thế kỷ này thần tượng đă lên ngôi
đại hào kiệt, đại anh hùng Lư Tống
Ó đáp xuống khiến giang sơn chuyển động
mưa truyền đơn trên khắp phố Sàig̣n
nhẩy xuống đời bằng ư chí sắt son
khiến bạt vía lũ côn đồ Cộng sản
một dũng cảm trên chót thang dũng cảm
một hy sinh trên cao độ hy sinh
Lư Tống ơi, thế giới đă nghiêng ḿnh
chào chính nghĩa, chào anh hùng dân tộc!
(tháng 9/1992)
Giờ đây, dù đang lao lung trong
chốn giam tù, anh vẫn làm thơ, những vần thơ ngùn ngụt lửa đấu tranh
cho tự do dân tộc hoặc những vần thơ như máu lệ chảy ṛng trong những
ngày tuyệt thực đớn đau như những câu tôi ăn thịt tôi, từng ngày,
từng phút với những hư hao suy ṃn xương thịt theo mỗi ngày không ăn không
uống để nói lên tiếng nói bất khuất trước tội ác vô nhân của bọn
người làm điêu đứng quê hương.
Suốt buổi chiều chủ nhật,
tôi và anh Ân đi lên đi xuống nhiều lần qua mấy tầng lầu của The Mall,
một siêu thị lớn nằm gần khách sạn Pongpetch Guestotel mà chúng tôi có thể đi
bộ khoảng mười phút theo ngơ tắt. Lư do là tôi muốn t́m một chiếc máy thâu
âm nhỏ xíu như chiếc hộp quẹt thay cho chiếc máy to bằng bàn tay mà tôi đă mang
theo từ Mỹ. Với chiếc máy thâu âm nhỏ cỡ đó mới có thể dấu trong
túi áo để thâu lại cuộc nói chuyện hoặc lời phát biểu của anh Lư Tống,
bằng không sẽ rất khó nhớ lại bằng đầu óc v́ anh Ân cho biết luật
trại giam cấm không cho mang máy thu âm, thu h́nh hoặc điện thoại cell phôn, ngay cả
túi xách tay nhỏ lớn ǵ cũng phải gởi hết ngoài cửa.
Bẩy giờ rưởi sáng ngày thứ
Hai (05/15/06) chúng tôi đều có mặt dưới pḥng tiếp tân khách sạn. Dù c̣n sớm
nhưng chẳng ai màng đến chuyện ăn điểm tâm mà đều đồng ư
đi thẳng tới trại tù ngồi chờ cho đỡ sốt ruột. Tuy mới tám
giờ nhưng với tuần lễ đầu của các học sinh đi học nên xe cộ
trên đường phố rất nhộn nhịp đông đúc. Xe chạy lạng lách cứ
ào ào phóng tới khiến tôi thấy kinh hồn quá, nhưng sau một tuần lễ quen rồi
mới thấy các tay lái ở Thái Lan hay Đài Loan thật cừ khôi và nhất là chịu nhường
nhau nên tưởng rằng họ chạy ẩu thế mà chẳng dễ dàng để xẩy
ra tai nạn giao thông đâu.
Từ
khách sạn chạy đến nhà tù chỉ khoảng mười lăm phút nếu không kẹt
xe. Kia rồi, hàng chữ Klong Prem Central Prison trên bức tường cao như chắn lối
kẻ ra hoặc người vào (có ai mong muốn vào tù đâu ngoài những lỗi lầm v́
vô t́nh hay cố ư phạm phải mà chỉ tội cho những kẻ trong tù chỉ mong sao được
thoát ra khỏi những ngày giam hăm mất tự do). Bức tường này cũng đă giam
giữ người chiến sĩ tranh đấu cho Tự Do trong mấy năm ṛng. “Một
ngày trong tù bằng ba năm bên ngoài”, nhất nhật tại tù thiên thu tại ngoại,
thế mà anh Lư Tống đă trải qua gần hết tuổi trẻ cuộc đời ḿnh
trong các khám lao tù, cái giá mà anh phải hứng chịu cho sự dấn thân đấu tranh v́
lư tưởng Tự Do, đ̣i hỏi nền độc lập dân chủ cho đất nước.
Nhưng có hề chi trước những cơ nguy của tiền đồ dân tôc đang
cần gióng lên những tiêng chuông cấp báo trước sự thống trị của Cộng
sản Việt Nam, dẫu anh có là “cây tùng đơn lẻ” trong năm tháng lao tù cũng
vẫn ‘khinh tuyết ngạo sương” là “riêng bản tính” của anh rồi,
huống chi bên cạnh anh c̣n có hằng ngàn tấm ḷng và hằng vạn cánh tay vẫn thắp
sáng và nối rộng ṿng đấu tranh chung cho tổ quốc Việt Nam.
Vượt qua bức tưởng cổng có trồng hoa đẹp
trên băi cỏ xanh tươi được cắt tỉa mượt mà như nhịp sống
bên ngoài vẫn vô t́nh hối hả đua chen với bao vui nhộn, nhưng hàng rào hoa cỏ
tươi xanh ấy liệu có bao che được những phần đời u tối
của tù nhân bên trong? Từ cổng, chúng tôi rẽ qua tay phải để vào thẳng nhà
khách của trại giam. Ṭa nhà này có hai pḥng làm việc của cảnh sát Thái để thu nhận
giấy tờ và có cả căn tin bán thức ăn thức uống cho người tới
thăm trong lúc chờ đợi làm thủ tục. Tại đây, Đ/T Ân giới thiệu
chúng tôi với chị Saijit là người Thái nhưng nói tiếng Việt khá lưu loát rảnh
rẽ v́ đă nhiều năm làm việc cho Cha Olivier trong các công tác thiện nguyện giúp đỡ
những người Việt trên đất Thái và hiện nay chị cũng đang giúp anh
Lư Tống cùng nhiều tù nhân khác nơi đây. Tôi không hiểu rơ ư nghĩa của cái tên Saijit
nhưng mọi người đều gọi chị với cái tên Việt rất dễ thương
là Diệu Tâm như tấm ḷng tử tế sốt sắng của chị đối với
mọi người, nhất là những bạn bè, đồng hương của anh Lư Tống
từ các nước xa xôi đến thăm trại tù Bangkok.
|